Home Bạn đọc viết Nuôi chim yến góp phần vào an sinh quốc phòng biển đảo

Nuôi chim yến góp phần vào an sinh quốc phòng biển đảo

by admin

 

  1. Tiềm năng kinh tế và lợi ích của  nuôi chim yến:
  2. Nuôi chim yến có khả năng tạo thêm mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới:

 

     

 

Chim yến và tổ yến

        Chim yến (Aerodramus fucihagus, A.germany), mà cái tên của chúng thường gắn với các hải đảo, một loài chim có thời kỳ đã đe dọa bị tuyệt chủng do bị khai thác quá mức bởi cái tổ quý báu của chúng, nhờ các tiến bộ khoa học công nghệ, đã trở thành một loài chim công nghiệp.

* Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng (trực thuộc viện Khoa Học và Công nghệ Việt Nam).

Số 1 Mạc Đĩnh Chi, Q.1; TP HCM.  DĐ: 0989 882 475.

E-MAIL: [email protected]

        Nuôi chim yến theo công nghệ và tầm vóc như hiện nay ở ASEAN, đã được coi là một ngành công nghiệp mới nổi.Tính đến tháng 5/2005, Indonesia đã có hơn 200.000 nhà yến ; Thái Lan đứng thứ 2 với hàng trăm ngàn nhà yến ; Malaysia đứng thứ 3 với 50.000 nhà yến (đến cuối năm 2011 đã lên đến 80.000 nhà yến). Indonesia đã trở thành nước sản xuất tổ yến nhiều nhất thế giới (khoảng 120 tấn); Thái Lan thứ 2 (40 tấn); Malaysia thứ 3 (20 tấn).

           Doanh thu bán lẻ tổ yến trên thế giới năm 2006 khoảng 3,8 tỷ USD. Năm 2009 đã vượt quá 4,15 tỷ USD với mức tăng trung bình mỗi năm là 15%.  FAO dự báo có khả năng phát triển lên 10 tỷ USD trong những năm sắp tới.Một tài liệu dự báo tăng trưởng ngành công nghiệp này của Malaysia hứa hẹn sau thập niên tới (vào năm 2020) có thể lên đến 10 tỷ RM (khoảng 3,2 tỷ USD)(xem biểu đồ  H.2)

Thị trường thế giới nhu cầu tổ yến sẽ còn tăng trưởng với tỷ lệ hai con số hàng năm trong 2 thập kỷ tới hoặc lâu hơn nữa.
Theo các chuyên gia lý do là:

  1. Tiêu dùng tổ yến được coi là biểu tượng của đẳng cấp, của sự thành đạt 
  2. Gía trị tăng cường sức khỏe, trẻ, đẹp của các thành phần hóa học của tổ yến
  3. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Châu Á, nhất là Hồng Kông, Đài Loan, và Trung Quốc cùng tầng lớp trung lưu giàu có mới nổi ở Đông Nam Á.
  4. Tổ yến còn là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp thực phẩm chức năng và y học thiên nhiên.
  5. Chim yến chỉ phân bố hẹp trên thế giới, chỉ có ở Đông Nam Á
  6. Tổ yến có giá trị xuất khẩu cao vì nó vừa có giá trị văn hóa, giá trị ẩm thực, vừa có giá trị cho sức khỏe, trẻ, đẹp và hiếm.

      Đặc biệt tổ yến Việt Nam có giá trị cao nhất trong các nước Đông Nam Á. Tại thị trường Hồng Kông, Amy S.M. Lau, David S.Melville, 1994 cho biết năm 1991 giá tổ yến từ Việt Nam là 1.333,04 USD/kg, cao nhất so với tổ yến từ các nước, Nó gần như gấp 6 lần tổ yến Malaysia, gấp 3 lần tổ yến Thái Lan, hơn gấp đôi tổ yến Indonesia (xem bảng 1)

        Theo Lê Hữu Hoàng, 2010, giá bán tổ yến VN thiên nhiên cao gấp 3 lần so với tổ yến nuôi trong nhà ở Malaysia.Theo Nguyễn Khoa Diệu Thu,(2010), giá tổ yến đảo 3.000-4.000 UDS/kg; yến nhà 1.400-1.800 USD/kg. Gía thị trường nội địa với tổ yến đảo 60-100 triệu VND/kg; tổ yến nhà 35-60 triệu VND/kg (2011)

                       

H 3: Khu vực sản xuất yến sào trên thế giới (màu đỏ)

 

      Theo các thương gia sở dĩ tổ VN tự nhiên có giá vì chúng là thiên nhiên hoàn toàn, tổ yến nấu không nát, tổ dày và hàm lượng dinh dưỡng siêu việt, tổ to ( Hội An 60 tổ/100g; Bình Định, Nha Trang 80-100 tổ/100g trong khi tổ yến Malaysia thường 120 tổ/100g). Tổ yến VN khi ăn còn có hương vị thơm ngon, đậm đà hơn (nhiều tổ có mùi vị nếp thơm)

BÀNG 1: So sánh giá một đơn vị tổ yến nhập khẩu ở Hồng Kông từ các nước khác nhau ( theo Amy S.M. Lau, David S.Melville, 1994 )

   

              Công nghệ nuôi chim yến trong nhà mới du nhập vào Việt Nam từ khoảng 2004, nhưng đến nay theo thống kê không chính thức đã có khoảng 5.000 nhà yến tại 30 tỉnh thành từ Hải Phòng đến Cà Mau, từ ven biển miền Trung lên Tây Nguyên như Đắc Lắc, Lâm Đồng, phổ biến cả ở TP Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ và tốc độ tăng trưởng đến chóng mặt

      Lấy ví dụ huyện Cần Giờ TP Hồ Chí Minh tháng 12/2006 mới có căn nhà nuôi yến đầu tiên nhưng sau 4 năm đã mọc lên thêm 76 căn nhà yến. Chỉ tính sản lượng tổ yến của 17 căn, theo thống kê chưa đấy đủ, năm 2008: 60 kg, năm 2009: 250 kg; năm 2010: 400 kg.(UBND huyện Cần Giờ, tp HCM, 2011) Sau 4 năm tăng gấp gần 7 lần (trung bình 170% năm) về sản lượng. (http://www.sggp.org.vn/nongnghiepkt/2011/3/252338/)

     Chất lượng tốt nhưng sản lượng yến sào của Việt Nam chỉ vào khoảng 10 tấn/ năm ( trong đó 50% khai thác thiên nhiên từ các hải đảo, 50% thu hoạch từ nhà nuôi yến) tương đương 10% so với các nước trong khu vực. Nhưng trong một vài thập niên tới, VỚI SỰ NỖ LỰC CỦA TOÀN DÂN, SỰ QUAN TÂM CỦA CÁC CẤP, CÁC NGÀNH chắc chắn sản lượng tổ yến sẽ trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới của nước ta, đuổi kịp các nước trong khu vực và có thể có thứ bậc cao trong mặt hàng này của thế giới.

      Ở tầm vĩ mô tiềm năng kinh tế của nuôi chim yến là rất lớn như trên đã trình bày. Ờ tầm vi mô, nuôi chim yến có thể là một biện pháp làm giàu của các cá nhân, gia đình, công ty. Một gia đình đầu tư vài trăm triệu đồng sau 3-5 năm có thể thu hoạch hàng trăm triệu đồng/năm. Các công ty với số vốn đầu tư lớn hơn có thể thu hàng triệu USD trong vòng 3 năm.Điển hình là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên yến sào Khánh Hòa, một phần tận dụng tài nguyên yến đảo sẵn có, một phần tăng cường đầu tư, tận dụng khoa học công nghệ mới, năm 2011 vừa qua đã đạt kim ngạch xuất khẩu gần 16 triệu đô la Mỹ, tiếp tục tăng trưởng 35% so với năm trước. Không dừng lại ở đó, năm 2012 này công ty đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 20 triệu đôla Mỹ, tăng gần 20% so với năm 2011.

     Thực tế này cho ta thấy công nghiệp nuôi chim yến không phải chỉ là một ngành kinh tế ngách, một thú chơi của nhà giàu mà đang thực sự đang trở thành một ngành công nghiệp quan trọng, có thể cho một sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới cho Việt Nam.

          Đầu tư vào công nghệ nuôi chim yến có thể xếp vào hạng siêu lợi nhuận trên mỗi mét vuông diện tích: trung bình 6m2 cho 1 kg tổ yến/năm, trị giá khoảng 30 triệu đồng tức 5 triệu đồng/m2/năm (50 tỷ đồng/ha). Nếu làm nhà 2 lầu thì có thể thu 150 tỷ đồng/ha/năm. Tại Malaysia một nhà yến hai tầng tổng diện tích 262 m2 thu nhập 112 kg/năm( trị giá > 200.000 USD hay gần 4 tỷ đồng

          Một địa phương có nhà yến thành công có thể làm tăng gấp 3 lần giá trị đất đai.

          Vì lợi nhuận cao, các dự án nuôi yến chắc chắn có sức thuyết phục các nhà đầu tư.

          Làm nhà nuôi chim yến là tạo kho vàng muôn đời cho con cháu.

                                          

Đặc tính kinh tế nổi bật của công nghiệp nuôi chim yến :

  1. Không phải khai hoang, phá rừng. Có thể phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ Bắc vào Nam (trừ một số nơi nhất định)
  2. Công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật cao nhưng có thể tự sản xuất trong nước
  3. Đầu tư vốn có thể từ nhỏ đến lớn, có thể lôi cuốn nhiều thành phần kinh tế tham gia
  4. Thị trường đang mở rộng nhanh cùng với sự phát triển của Trung Quốc, Đông Á. Cung không đủ cầu
  5. Cho thu hoạch và hoàn vốn nhanh: 3-5 năm
  6. Chi phí sản xuất thấp: ít lao động, ít điện nước, hiện chưa phải chi phí thức ăn, thuốc, hóa chất chống dịch bệnh
  7. Quản lý đơn giản
  8. Tốc độ phát triển nhanh:> 20%
  9. Có thể phát triển cả ở hầu hết hải đảo, góp phần khẳng định chủ quyến quốc gia và phát triển kinh tế biển, an sinh quốc phòng hải đảo

 1.2 Công nghiệp nuôi chim yến góp phần bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ sức khỏe cho cây trồng, vật nuôi và con người:    

Phát triển công nghiệp nuôi chim yến có thể góp phần khống chế dịch hại, đặc biệt là góp phần bảo đảm an ninh lương thực vì thức ăn của chim yến là các loài chân khớp, côn trùng nhỏ trong đó có các loài rầy như rầy nâu, rầy xanh đuôi đen,…truyền nhiều bênh nguy hiểm cho lúa (vàng lụi, vàng lùn, vàng xoăn lá lúa)

Phân tích thức ăn trong dạ dầy chim yến , kết quả thấy chủ yếu là côn trùng họ Cánh màng Hymenoptera ( kiến cánh …) Hai cánh Diptera ( ruồi, muỗi…) Cánh giống Homoptera (rầy nâu (Nilaparvata lugens, Nephotettic spp),tác nhân làm bùng phát đại dịch vàng lùn và lùn xoắn trên lúa hiện nay ; rầy xanh đuôi đen (Nephottetis virescens và Nephotettis nigropictus)một thời làm mưa làm gió trên các vùng trồng lúa của nước ta, môi giới truyển các bệnh tungro, vàng lụi…; cánh cứng nhỏ Coleoptera, mối Isoptera và nhện nhỏ …Chim non trong dạ dày có khi chứa tới 50% thức ăn là rầy nâu và rầy xanh đuôi đen .Mùa mưa tỷ lệ mối có khi đạt tới 100%.

       Vì vậy có thể coi chim yến là loài chim có thể dùng để đấu tranh sinh học với nhiều loài côn trùng có hại cho sức khỏe người và gia súc (muỗi truyền bệnh) gây dịch hại nguy hiểm cho lúa và nhiều loài chân khớp gây hại nông lâm nghiệp khác.Lợi ích này có giá trị gấp nhiều lần lợi ích từ yến sào mang lại

  1. Những lợi ích kinh tế, quốc phòng khác:

     Công nghiệp nuôi chim yến có tác động tích cực trực tiếp đến các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, một số sản phẩm điện tử, cơ khí…, Công nghiệp nuôi chim yến còn thúc đẩy ngành xây dựng, tạo thêm sinh khí mới cho ngành địa ốc. Ở Malaysia, Thái Lan và có thể trong tương lai cả ở Việt Nam, công nghiệp nuôi chim yến đã và sẽ cứu vớt ngành địa ốc trong các cơn khủng hoảng, nổ bong bóng, khi nhiều khu dân cư, cao ốc, nhà hàng, khách sạn, khu công nghiệp đua nhau mọc lên mà thiếu người thuê, mua.Việc chuyển đổi các bất động sản này sang nuôi chim yến đã mang lại hiệu quả kinh tế không ngờ. Ngành du lịch cũng được hưởng lợi do phát triển các khu du lịch sinh thái nuôi chim yến, các cửa hàng ẩm thực yến sào, các sản phẩm yến sào làm quà tặng…hấp dẫn thêm khách du lịch. Các dịch vụ khác phục vụ công nghiêp nuôi chim yến như bảo vệ, chế tác tổ yến…tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo cho cư dân địa phương.

 

  1. Biển đảo Việt Nam là địa bàn thích hợp và cần thiết phát triển nuôi chim yến:

      Biển đảo Việt Nam là địa bàn rất thích hợp phát triển công nghiệp nuôi chim yến vì:

  • Khí hậu tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm thường là 25ºC, độ ẩm khoảng 85%, ở vào khoảng nhiệt độ và độ ẩm sinh thái cực thuận của chim yến.
  • Với diện tích hơn 1 triệu km vuông, môi trường rộng, thông thoáng thỏa thích cho chim yến hoạt động, bắt mồi vì đặc tính của chim yến là chỉ có thể đớp mồi trên không trung hay trên mặt nước trong khi bay lượn mà không thể bắt mồi trên cạn như gà vịt.
  • Biển đảo Việt Nam nằm khá gần với các nguồn cung cấp côn trùng làm thức ăn cho chim yến như dãy Trường Sơn với rừng núi thiên nhiên, rừng cây công nghiệp bao la, các cánh đồng, ruộng lúa bát ngát, sông hồ chằng chịt, rừng ngập mặn ven biển rộng lớn…. Mùa mưa lại kế tiếp nhau giữa các vùng từ Bắc xuống Nam, gần như liên tục cung cấp côn trùng chân khớp quanh năm.
  • Biển đảo Việt Nam lại nằm ở ven bờ của Đông Nam Á lục địa, Nam Trung Quốc với nguồn chân khớp côn trùng khổng lồ. Chúng ta lại ở vị trí giao lưu của các khí đoàn lớn, phía bắc từ Sibêri (Nga), qua lục địa Trung Quốc xuống, phía Nam qua Ấn Độ dương, Indonesia, Malaysia lên, mang theo rất nhiều côn trùng, chân khớp. (Đặc tính của chim yến là bay lượn đón bắt mồi suốt ngày trên không trung. Để tiết kiệm năng lượng chúng thường lượn như kiểu tầu lượn hay cánh diều,  theo các dòng khí )
  • Biển đảo Việt Nam với hơn 3000 hòn đảo và vùng nước nông bao quanh rất thuận lợi cho việc xây dựng nhà yến, các khu công nghiệp nuôi chim yến.Nhiều đảo nhỏ, trơ sỏi đá không thích hợp cho trồng trọt, chăn nuôi, nhưng vẫn có khả năng làm nhà nuôi yến. Với các đảo nửa nổi, nửa chìm hay vùng nước nông chúng ta có thể làm nhà yến kiểu nhà sàn, nhà cao cẳng (pông tong) nhà nổi. Lợi dụng khả năng bay xa kiếm mồi của chim yến (tới hàng trăm Km theo chiều gió) trước mắt chúng ta chưa cần hỗ trợ thức ăn.Trong tương lai, nuôi côn trùng cho chim yến ăn cũng là ngành công nghiệp trong tầm tay của chúng ta

 

Hang yến và nhà công nhân bảo vệ ở hải đảo trơ sỏi đá

 

  

 

Khai thác tổ yến tại các hang yến thiên nhiên

       Tại Việt Nam, Nghề quản lý và khai thác tổ yến tại các hải đảo đã là một nghề truyền thống có từ lâu đời, đến nỗi nhiều người tưởng rằng chỉ có thể nuôi chim yến ở hải đảo.Tại Hòn Nội (Khánh Hòa) có miếu thờ ông Đạt, ông Tổ nghề yến sào.Ông đã lập ra thôn Bích Đầm và tìm ra các đảo yến tại vùng này.Nghề yến sào ra đời từ đó, nay đã qua 700 năm.

      Tạp chí “Chine moderne: ou description historique, géographique et littéraire” xuất bản năm 1853 tại Paris. Trang số 586 có nhắc đến việc hàng năm người dân Đàng Trong từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 ra các đảo ngoài khơi, đặc biệt là Paracels ( ngày nay gọi là Hoàng Sa) để khai thác tổ chim yến.

    “The Encyclopaedia Britannica,or Dictionary of Arts, Sciences, and general literature”, 8th Edition, volume 7 được in tại Edinburgh 1854. Phần viết về Cochinchina (Đàng Trong) ở trang 47 đến 50 mô tả khá kỹ về vương quốc này, trong đó có nói đến việc người Cochinchina ra đảo Paracels khai thác tổ chim yến ở trang 50. (http://books.google.it/books?id=0GxBAAAAc)

      Các tư liệu trên, theo các nhà sử học, là một trong các bằng chứng hùng hồn để khẳng định từ lâu, Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền Việt Nam.

      Ngày nay tổ yến ở nước ta được thu hoạch và xuất khẩu chính cũng từ một số hang trên các hải đảo (50%). Có 7 nơi có yến sào chính, đó là: quần đảo ở biển Khánh Hòa, Cù lao Chàm (QuảngNam), Cát Bà và mõm núi Phương Mai nhô ra biển (Quy Nhơn), Côn Đảo và Phú Quốc. Trong đó, Khánh Hòa được loài chim yến yêu mến hơn cả.Nguồn lợi thiên nhiên yến sào của Việt Nam tập trung ở ba nơi là Nha Trang, Hội An và Quy Nhơn với tổng sản lượng mỗi năm xấp xỉ 3.000 – 4.000kg, riêng Công ty yến sào Khánh Hoà quản lý 121 hang động trên  đảo yến, mỗi năm thu hái gần 82.000 tổ yến, chiếm hơn 70% tổng sản lượng yến sào của cả nước.Tiềm năng phát triển ở một quốc gia với hơn 3000 hòn đảo  trong cả nước còn rất lớn.

         Chúng ta đã thu được khá nhiều thành tựu trong việc bảo tồn và phát triển đàn chim yến ở một số hải đảo. Ví dụ điển hình là trong những năm đầu thế kỷ 21, Công ty Yến sào Khánh hòa đã liên tục phát triển các hang đảo yến mới từ con số ban đầu là 08 đảo với 40 hang lên 29 đảo với hơn 138 hang lớn nhỏ thuộc vùng biển Khánh Hòa. Công ty thực hiện thành công các giải pháp kỹ thuật nhằm gia tăng sự phát triển quần thể đàn chim yến gắn liền với sự hình thành các hang đảo mới. Công ty đã tiến hành di đàn chim yến thành công đến các đảo: Đảo Hải Đăng, Bàng Lớn, Đông Tằm, Mũi Tàu( Nha Trang), đảo Hòn Mai, Hòn Đỏ (Ninh Hòa), Hòn Cò, Hòn Nhàn (Cam Ranh), nâng tổng số hang yến mới lên 98 hang yến. Bên cạnh đó, Công ty thực hiện bảo tồn và phát triển quần thể chim yến hàng tại Vườn Quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa, Vũng Tàu), Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải trên cả nước. Nếu như sản lượng nguyên liệu yến sào thu hoạch năm 2001 đạt 2.136 kg thì đến năm 2011, sản lượng thu hoạch tại các đảo yến thiên nhiên Khánh Hòa đã đạt 3.151 kg, tăng trên 1 tấn so với năm 2001.        

        Theo Cơ quan thực thi công ước quốc tế về các loài động vật quý hiếm (CITES) Công ty Yến sào Khánh Hòa là nhà quản lý, khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên yến sào tốt nhất Đông Nam Á. Công nghệ thu hoạch sản phẩm yến sào và quy trình quản lý hang đảo yến của công ty rất khoa học, được đánh giá vượt trội so với các nước khác.    

       Việc di dân ra các hải đảo để khai thác tiềm năng kinh tế cũng như khẳng định chủ quyền, bảo vệ biển đảo sẽ dễ dàng hơn, kinh tế hơn nếu chúng ta biết kết hợp việc này với việc phát triển nuôi chim yến.Chỉ riêng Công ty Yến sào Khánh hòa, giá trị sản lượng 2011 đã tới 16 triệu Mỹ kim. Nếu mỗi tỉnh có biển đảo có được một công ty yến như Khánh Hòa, giá trị sản lượng đã lên tới hàng trăm triệu Mỹ kim.Với công nghệ hiện nay, đây là một điều hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Chúng ta không cần phải có hang hốc thiên nhiên; chúng ta hoàn toàn có thể nuôi yến từ các loại nhà yến nhân tạo trên biển cũng như ven biển cho các tỉnh này.Nếu có chiến lược, chủ trương, chính sách phát triển nuôi chim yến đúng đắn chúng ta có thể đưa giá trị tổng sản lượng tổ yến trên biển đảo Việt Nam lên hàng tỷ USD, không thua kém nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác, tạo nguồn tài chính cho an sinh xã hội vùng biển đảo

             Những người canh giữ hang yến cũng là những dân quân bảo vệ các hải đảo.  Điển hình là Công ty Yến Sào Khánh Hòa, đang quản lý trên 27 đảo yến với hơn 90 hang yến lớn nhỏ thuộc vùng biển Khánh Hòa và 18 đơn vị trực thuộc. Nếu không có các hang yến thì nhiều đảo trong số này chỉ là hoang đảo không bóng người. 5 năm liền (2005-2010), Công ty được Bộ Công an tặng cờ thi đua xuất sắc về phong trào TDBVANTQ trong khối DN tỉnh. Năm 2010, công ty.đã được nhận cờ “Đơn vị thi đua xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Hiện nay, Ban Chỉ huy Quân sự và lực lượng tự vệ Công ty có 108 người, lực lượng bảo vệ chuyên trách hơn 350 người. Đây là lực lượng nòng cốt trong công tác giữ gìn quốc phòng an ninh.

       Phát triển nuôi chim yến trên vùng biển đảo là một cách cụ thể hóa Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 mà Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa X) đã ban hành. Theo đó, mục tiêu là kinh tế biển sẽ đóng góp từ 53 đến 55% GDP, từ 55 đến 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội đất nước, góp phần hiện thực hóa khẩu hiệu “Việt Nam mạnh về biển, làm giàu từ biển”.    

  1. Công nghệ của công nghiệp nuôi chim yến

Công nghệ của công nghiệp nuôi chim yến khác hẳn công nghệ chăn nuôi truyền thống như chăn nuôi gia cầm, trâu bò, heo lợn.Thực chất đây là một loại hình chăn nuôi bán hoang dã một loài chim hoang dại.Căn bản của nó dựa trên sự hiểu biết yếu tố giới hạn sinh thái của chim yến hiện tại là thiếu nơi cư trú. Nền công nghiệp này chỉ cần có nhiệm vụ là tạo thêm diện tích cư trú thích hợp cho chim yến và một số biện pháp kỹ thuật để dụ chim yến đến ở. Hiện tại không cần phải mua con giống, không cần cho ăn và các chăm sóc thú y đặc biệt. Có hai loại hình chính của công nghiệp nuôi chim yến là:1) Bảo tồn, bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tổ yến tại các hang hốc tự nhiên. Cải tạo, nâng cấp, tạo lập thêm các hang yên mới. 2) Xây dựng nhà nuôi yến, các khu công nghiệp, công viên sinh thái nuôi chim yến nhân tạo.Tất cả đều dựa trên khoa học, sự hiểu biết về các đặc tính sinh học, sinh thái của chim yến. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong đó có viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng, viện Công nghệ Hóa học (tại TP HCM) là trong số các đơn vị đã nắm bắt và phát triển công nghệ nuôi chim yến phù hợp cho các vùng và đã triển khai thành công nhiều nhà nuôi yến trong toàn quốc.

  1. Đặc tính sinh học, sinh thái học của chim yến – cơ sở sinh học của công nghiệp nuôi chim yến:

Theo phân loại học mới nhất thì công nghiệp nuôi chim yến trong nhà sử dụng loài Aerodramus fuciphagus, trong khi loài ở các hang động trên các đảo ở Việt Nam là loài Aerodramus germany.Loài sau cho tổ có giá trị gấp hai, ba lần loài trên.Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là hai phân loài. Loài yến đảo cũng có thể được thu hút vào ở trong nhà (Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2010).Chúng có một số đặc điểm chung sau:

–    Chiều dài thân:10 – 16 cm. Loài sau hơi lớn hơn một chút

–    Trọng lượng chim12,4 – 18,0 g; Sải cánh dài (12-15cm);Trọng lượng tổ 8-18 g

–    Lưng nâu phớt đen, bụng xám hoặc nâu, hông xám hay không. Đuôi chẻ đôi không sâu

–    Âm thanh ríu rít và cao. Âm dò đường 2-8 kHz định hướng trong đêm tối. Chim bị hấp dẫn bởi tiếng của đồng loại bao gồm âm thanh tạo bầy đàn, âm thanh thông báo nơi ở, nơi có thức ăn, âm thanh trống gọi mái và ngược lại, âm thanh thông tin giữa cha mẹ với con cái.Công nghiệp nuôi chim yến lợi dụng cách thông tin này của chim yến để dẫn dụ chim yến đến nhà mới.

–    Một đôi chim yến nhà có thể cho 3-4 tổ trong một năm, theo giá thị trường hiện nay là khoảng 1 triệu VND. Chim yến đảo thiên nhiên chỉ cho 2 tổ/năm

–    Một đôi chim yến nhà có thể đẻ 3 lứa/năm; mỗi lứa thường là 2 con.Như vậy khả năng sinh học tăng đàn của chim yến có thể gấp 2-3 lần/năm

–    Chim yến có tuổi thọ khoảng 12 năm hay hơn

–    Chim yến chỉ ăn các loài chân khớp; chúng chỉ có thể đớp mồi trên không trung mà không có thể mổ, nhặt mồi trên mặt đất như gà, vịt. Chúng cũng có thể đớp mồi trên mặt nước, hay trên mặt nước; đó là lý do vì sao chim yến có thể gắn bó với biển đảo có nhiều côn trùng bị gió cuốn chết nổi trên mặt biển. Chúng cũng đớp mồi trong khi bay len lỏi giữa các tán cây to, là là sát bề mặt ruộng lúa, bãi cỏ.Đây là khó khăn lớn nhất khi muốn công nghiệp hóa, làm thức ăn nhân tạo cho chim yến. Thức ăn của chim yến là các loài côn trùng nhỏ bay lên hay bị gió cuốn lên từ các đầm lầy, ao hồ, sông suối ( muỗi, dĩn, phù du, chuồn chuồn nhỏ…) từ các thảm cỏ hoang dã, từ cánh đồng, ruộng vườn (bọ rầy, cánh cứng nhỏ…) từ các kiểu rừng trong đó có rừng ngập mặn (côn trùng ăn lá, mối…), chợ búa, bãi rác ( ruồi, ruồi quả…) trại chăn nuôi, phân súc vật (ruồi,măn mắt…) …Nói tóm lại ở đâu có cây cối, rác rưởi, phế thải nông lâm nghiệp, có côn trùng, chân khớp là có thức ăn cho chim yến. Thường các côn trùng chân khớp này bị cuốn và bay theo các luồng gió, luồng không khí và chim yến lợi dụng việc này để kiếm ăn không mấy khó nhọc dọc theo các dòng khí lưu.Nhà yến làm dọc theo các dòng khí lưu này có nhiều khả năng thu hút chim yến hơn nơi khác.

–     Đây là loại chim định cư. Nhưng ở vùng có khí hậu lạnh, một số chim bán di cư, mùa lạnh chúng chuyển xuống vùng ấm hơn, mùa nóng chúng lại quay về.Chúng có khả năng nhận biết vị trí nơi cư trú và làm tổ rất chính xác. Chỉ trừ trường hợp nơi cư trú bị xâm hại chúng mới phải chuyển nơi ở.Do đó gần như không phải lo sợ chim đi khỏi nhà mình nuôi nếu bảo đảm các yếu tố cần thiết. Chỉ có chim ra giàng mới phải đi tìm nơi cư trú mới, và ta thường chỉ gọi được chim tuổi này về nhà mới.

–    Chim yến là loài sống bầy đàn để tăng hiệu quả bầy đàn khi săn mồi và tiết kiệm không gian ở. Mật độ quần thể chim yến tại nơi cư trú rất cao.Một hang yến thiên nhiên như Hòn Nội ở Khánh Hòa có tới hàng trăm nghìn con, mỗi năm cho hàng tấn tổ yến. Những khu công nghiệp nuôi chim yến có thể làm nhiều nhà liên kế, cao nhiều tầng. Chính vì thế công nghiệp nuôi chim yến không cần tốn nhiều diện tích

–    Về phạm vi hoạt động của chim yến hiện nay còn nhiều tư liệu khác nhau.Một số cho rằng chim yến thường kiếm ăn trong bán kính 50 km. Một số cho rằng chúng có thể bay lượn theo các luồng gió, hoàn lưu khí quyển đi xa hàng trăm km.Do đó chim yến có thể nuôi trên các hải đảo, vùng biển xa mà vẫn kiếm được thức ăn. Tốc độ bay của chim khá cao,bình quân 40 km/h, vận tốc bay tối đa lên tới 130-160 km/h; nhưng chim thường lợi dụng các dòng khí để bay lượn vì tốn rất ít năng lượng khi bay, kiếm ăn. Trước khi vào nhà và trong nhà, chim yến cần có khoảng không bán kính 2 m để bay lượn.

–    Yếu tố vi khí hậu thích hợp cho nơi ở của chim yến là: nhiệt độ 28 ± 3ºC; độ ẩm tương đối 80 ± 5%; Ánh sáng 0,02 – 0,2 Lux.Cần có độ thông thoáng khí nhất định nhưng không được có gió lùa mạnh. Đây là các yếu tố cần chú trọng cho việc xây dựng nhà nuôi chim yến công nghiệp

–    Chim yến có một số kẻ thù tự nhiên như tắc kè (ăn trứng và chim con), chuột,sóc, mèo, cầy cáo, cú, diều hâu, chim cắt, rắn… (ăn tổ, trứng, chim), dơi (cạnh tranh nơi ở), kiến lửa, ong bò vẽ, mò, mạt (cắn chết hoặc làm chim con rơi khỏi tổ), gián (ăn tổ) …làm nhà yến phải tuyệt đối phòng tránh được các thiên địch này.

–    Chim yến khá nhậy bén với các mùi vị. Chúng ưa thích mùi nhà cũ, mùi tổ yến và các sản phẩm phân giải của tổ yến, của đồng loại,mùi nhà có phân yến cũ…Chúng sợ mùi nhà mới, mùi động vật gây hại, mùi hóa chất lạ, mùi khói, thuốc nổ, hơi người…

–    Chim yến không có khả năng đậu trên các cành cây, dây điện; không có khả năng đi, nhảy như gà, chim bồ câu. Chân chúng tiêu giảm chỉ còn khả năng bấu bám vào một số vật liệu như dơi, và khi bay phải lấy đà bằng cách thả mình rơi tự do một khoảng cách thường là 2m (với chim non). Vật liệu bấu bám, làm tổ phải có độ nhám, độ mềm, mùi vị nhất định. Vì thế không phải vật liệu nào cũng có thể làm thanh làm tổ cho chim yến

–    Tổ yến (yến sào) được làm bằng nước bọt của chim yến. Sau mỗi lần đẻ, chim yến lại làm một cái tổ mới để đẻ lứa sau. Nếu ta không lấy tổ cũ đi, chim có thể chỉ lót thêm một vài lớp lên tổ cũ rồi đẻ trứng. Nhưng tổ lưu cữu sẽ làm phát triển bọ mạt, có thể cắn đốt làm chim con phải bò ra, rơi khỏi tổ và chết. Đây là điều rất quan trọng, khác với chăn nuôi động vật hoang dã khác như nuôi gấu lấy mật, nuôi trăn, cá sấu lấy da, thịt…Việc lấy tổ yến không những không gây đau đớn, làm hại động vật mà còn có ích cho chim con

– Chim yến trong tự nhiên phân bố chủ yếu ở các đảo ở Đông Nam Á; nay được nuôi bán hoang dã trong nhà trên quy mô công nghiệp ở ASEAN và không bị cạnh tranh bởi các quốc gia ngòai khu vực.                   

  1. Các bước của công nghệ nuôi chim yến:

Công nghệ của công nghiệp nuôi chim yến về cơ bản có các bước như dưới đây.Nhưng tại mỗi nước, và trong một nước có sự khác nhau về chi tiết.Chúng ta lúc đầu sao chép công nghệ của Indonesia và Malaysia (hiện nay vẫn còn một số công ty chuyển giao các công nghệ này) nhưng hiện nay đã nâng cao công nghệ lên rất nhiều, khắc phục được nhiều nhược điểm của các nước trên, phù hợp hơn với môi trường sinh thái Việt Nam; tốt hơn, rẻ hơn, bền hơn, cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

Có hai quy mô chính là quy mô kinh tế hộ gia đình và quy mô công nghiệp tập trung với các dự án nuôi chim yến dưới các tên: khu du lịch sinh thái, công viên sinh thái nuôi yến, khu công nghiệp, khu nông nghiệp kỹ thuật cao nuôi chim yến.Trọng tâm của công nghệ nuôi chim yến là xây dựng nhà nuôi yến.

Tựu chung, công nghệ của công nghiệp nuôi chim yến gồm các bước liên hoàn sau:

 1) Khảo sát, phát hiện địa điểm để làm nhà, xây dựng khu công nghiệp, khu sinh thái nuôi yến: Sử dụng phương pháp khảo sát bằng âm sinh học, sử dụng tiếng gọi bầy đàn của chim yến là phương pháp rất chính xác, rẻ tiền, nhanh chóng. Chúng ta cần có chương trình khảo sát lập bản đồ phân vùng tiềm năng nuôi chim yến cho toàn bộ lãnh thổ, trong đó có vùng biển đảo để biết rõ nơi nào, đảo nào là có luồng hoạt động của chim yến, có khả năng, có thuận lợi nuôi chim yến nhất.

 2) Quy hoạch, lập dự án, thiết kế

 3) Xây dựng nhà nuôi yến với các tiêu chuẩn xác định về vi khí hậu, vật lý, hóa học, sinh học.Nhà nuôi yến có thể là nhà cấp 4, trệt (một tầng), diện tích tối thiểu 4 x 8 m = 32 m2. Có thể tận dụng container phế thải.(Kiểu nhà công te nơ này phù hợp cho nơi chưa ổn định quy hoạch vì có thể di dời cả nhà và chim yến đến nơi khác. 

        Các mẫu nhà hiện đại 3-4 tầng, thậm chí hàng chục tầng, liên kế trị giá một vài tỷ đến hàng chục tỷ VND.Một số gia đình tận dụng sân thượng, phần nóc biệt thự, một số phòng trống, cửa hàng có khi chỉ cần vài chục m2 chuyển đổi thành nhà nuôi yến

 4) Lắp đặt trang thiết bị

 5) Phun rải các hóa chất

 6) Vận hành, quản lý, bảo dưỡng

 7) Thu hoạch

 8) Công nghệ sau thu hoach, sơ chế, chế tác

    Có thể bổ sung:

 + Công nghệ ấp, nuôi và luyện chim con; hiện ít dùng vì chưa có hiệu quả kinh tế

 + Công nghệ nuôi côn trùng, thức ăn cho chim yến: Hiện các quốc gia nuôi chim yến chưa chú trọng vấn đề này, có lẽ vì nguồn thức ăn thiên nhiên của chim yến còn quá dồi dào.Nhưng trong tương lai gần, yếu tố sinh thái giới hạn nghề này có thể sẽ là thức ăn. Hiện nay chúng tôi có thể chuyển giao công nghệ nuôi công nghiệp một số côn trùng không gây hại nông lâm nghiệp, không truyền bệnh làm thức ăn nuôi chim yến. Nguồn dinh dưỡng để nuôi côn trùng là phế thải nông lâm nghiệp (mùn cưa, rơm rạ, trấu, cám, phế thải nhà máy rau quả, chế biến thủy hải sản, phân gia súc gia cầm, phân trùn…)

 

 

      2.3: Vật tư, trang thiết bị của công nghệ nuôi chim yến:

 

– Vật liệu xây dựng: gạch, đá, xi măng, cát, sắt, tôn, móp xốp, mút bạc, tấm Euron, Prima, composite vô cơ, xi măng nhẹ,….tùy theo kiểu nhà

– Thanh làm tổ: gỗ SW-2 (nhập từ Indonesia), Meranti (nhập từ Malaysia); một số loại gỗ nội như trâm, huỷnh, tếch… (không mối, mọt, mục,mùi vị lạ, độ cứng vừa phải), bê tông, bê tông nhẹ, plastic, đá thiên nhiên chuyên dụng.(Dùng đá thiên nhiên làm thanh làm tổ và kỹ thuật khiến tổ yến giống như tổ trong hang đá thiên nhiên, có giá gấp đôi trên thị trường).Bát, đinh để gắn thanh làm tổ. Tổ mồi

– Trang bị âm thanh: đầu máy, ămply, các loại loa treble, dây loa, ốc vít để gắn loa, băng catset,đĩa CD hay USB tiếng chim (nhiều loại). Đã nghiên cứu đưa ra thị trường một số kiểu âm thanh có tác dụng dẫn dụ thu hút chim cao; một số loại đầu catset,USB, amply rẻ tiền, có thể dùng ác quy mà không cần dùng điện lưới

– Trang thiết bị tạo ẩm: máy phun sương, dây nước, máy lọc nước, đầu bép. Quạt phun sương Bể nước hoặc dụng cụ chứa nước trong nhà, máy phun khí dung siêu âm…

– Trang thiết bị làm mát: hệ thống làm mát bằng đoản nhiệt hơi nước, quạt máy, máy lạnh

– Trang thiết bị làm ấm: lò sưởi các loại

– Trang thiết bị điều khiển: Timer, Rơle nhiệt ẩm, camera quan sát. Màn hình

– Trang thiết bị điện nước: máy phát điện, ắc quy với converter, hệ thống điện mặt trời, gió, thủy điện nhỏ; dây điện, ổ cắm, phíc cắm, ống nước, ống thông hơi, khuỷu…Hệ thống sử dụng tự động nhiều nguồn điện

– Thiết bị bảo vệ: khóa, camera, máy chống trộm, máy báo động; chó điện tử, chó nghiệp vụ…

– Hóa chất: chất tẩy mùi nhà mới, chất rải sàn, mùi phân yến, chất phun vào thanh làm tổ tăng khả năng dẫn dụ thu hút yến đến làm tổ….

– Trang bị hóa chất phòng trừ dịch hại: đèn chống cú, bàn chông chống cú, bẫy chuột, gián; hóa chất trừ kiến, gián, chuột, mối, mục…( mà không làm chim yến sợ)

– Trang thiết bị cho thu hoạch tổ yến: thang, đèn săn, dao, bơm phun nước, hộp,túi đựng…

– Trang thiết bị chế tác: phòng ốc, bàn ghế, bát, đèn, nhíp, khuôn, kẹp, quạt, máy sấy, tủ lạnh….

      Nhìn chung vật tư trang thiết bị cho công nghiệp nuôi chim yến là phổ biến, dễ kiếm, dễ mua, hầu hết có thể sản xuất trong nước, đây là một thuận lợi lớn cho việc phát triển công nghiệp này

      Công nghệ nuôi chim yến hiện nay đã đảm bảo cho việc xây dựng ngành công nghiệp nuôi chim yến thành công.Hiện tượng tỷ lệ thành công chưa cao của các nhà nuôi chim yến chỉ là hiện tượng cục bộ do chưa có sự quan tâm quản lý của Nhà Nước,chủ đầu tư chưa coi trọng khoa học công nghệ, thuê mướn phải các nhà chuyển giao chưa nắm vững công nghệ,học mót hoặc bị lừa.Việc phát triển công nghiệp nuôi chim yến cần nắm vững yếu tố công nghệ là then chốt để tránh lãng phí tiền của.

 

     3. Tác động môi trường của công nghiệp nuôi chim yến:

3.1 Lợi ích:

– Bảo tồn, phát triển một loài chim quý

– Phương pháp khống chế sâu bệnh không ô nhiễm môi trường

– Giúp nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học, trồng rừng, bảo vệ thiên nhiên

3.2 Tác động không mong muốn cần lưu ý:

 O   Vấn đề dịch bệnh: H5N1: Hiện nay không có dấu hiệu nào chứng tỏ chim yến bị nhiễm H5N1 tại tất cả các nước có nuôi chim yến ở Đông Nam Á. Nhưng về nguyên tắc, có thể tương tác giữa bệnh của người và chim: Do đó không nên  khuyến khích nuôi chim yến ở chung với người. Các dự án nuôi chim yến quy mô công nghiệp tập trung cần tuân theo các quy chế vệ sinh phòng dịch của các trại chăn nuôi công nghiệp

  • Ô nhiễm tiếng ốn do máy phát tiếng chim: khắc phục bằng cách nuôi xa khu dân cư, mở âm lượng vừa đủ, và chỉ phát vào những thời điểm có hiệu quả nhất, dùng loại loa vọng âm xoắn.
  • Ô nhiễm phân chim: Chim bài tiết phân trong nhà thì sử lý như sử lý phân gia cầm. Chim thải phân ra môi trường khi bay cần khắc phục bằng cách không nuôi mật độ cao gần các khu dân cư, khu du lịch, di tích kiến trúc.
  • Mỹ quan đô thị: chú ý xây dựng, sửa chữa nhà ở thành nhà nuôi chim yến đảm bảo các yêu cầu về mỹ quan kiến trúc đô thị. Một số nơi xây kiểu núi giả rất đẹp
  • An toàn hàng không: Chưa có bằng chứng về nguy cơ an toàn hàng không khi va đập giữa máy bay và chim yến. Nhưng khuyến cáo các khu công nghiệp nuôi chim yến nên có khoảng cách nhất định tới các sân bay.
  • Phong điện: Các nghiên cứu thấy rằng, trang trại điện gió có thể gây tổn hại cho các loài chim và loài dơi bằng 3 cách: xáo trộn, mất môi trường sống hoặc gây ra các thiệt hại (cả trực tiếp và gián tiếp), và các vụ va chạm.Trong tương lai ven biển và hải đảo sẽ phát triển mạnh điện gió, do đó ngay từ bây giờ phải nghiên cứu tổng thể về quy hoạch, về các biện pháp kỹ thuật bảo vệ chim yến trước nguy cơ này.
  • Nguy cơ với côn trùng có ích:

      Chim yến bị cho rằng có thể săn bắt làm giảm số lượng nhiều côn trùng có ích,ví dụ một số loài ong giúp thụ phấn cây cối.Chưa có bằng chứng về việc này. Nhưng đây là vấn đề cần chú ý trong tương lai khi số lượng chim yến nuôi tăng lên tới số lượng hàng triệu con Cần giữ cân bằng giữa chim yến và côn trùng có ích.

 

 4. Vấn đề xây dựng và bảo vệ thương hiệu yến sào của Việt Nam

 

 &

Related Articles

Leave a Comment